This is alternative content.

Trang chủ Tin tức Nhà trường Giáo dục Kon Tum 20 năm hình thành và phát triển
Giáo dục Kon Tum 20 năm hình thành và phát triển
Thứ tư, 30 Tháng 10 2013 01:42

 

Giáo dục Kon Tum xuất phát từ nền giáo dục tỉnh Gia Lai-Kon Tum trước đây, ngày đầu mới thành lập, giáo dục Kon Tum chưa có nhiều thành tựu nổi bật và còn lạc hậu, kém phát triển so với nền giáo dục ở một số tỉnh thành khác trên cả nước. Tuy nhiên, sau 20 năm kể từ ngày tái lập tỉnh Kon Tum năm 1991, nhất là trong 10 năm từ 2000-2011, giáo dục tỉnh đã thực sự vươn lên mạnh mẽ và đạt những thành tựu vượt bậc trong điều kiện khó khăn mang tính đặc thù của một tỉnh miền núi, biên giới.

1. Những khó khăn ngày đầu thành lập.

Năm 1991, năm ghi dấu sự kiện đáng nhớ của tỉnh Gia Lai-Kon Tum: Chia tách thành hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Sự nghiệp giáo dục của hai tỉnh anh em lại đứng trước những thời cơ, vận hội và những khó khăn, thách thức mới. Trong tương quan chung của hai tỉnh, phần khó khăn, thách thức lớn hơn thuộc về giáo dục tỉnh Kon Tum.

Hệ thống trường lớp còn sơ khai, toàn tỉnh chỉ có 109 trường từ mầm non đến THPT; cơ sở vật chất còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu với 477/1131 phòng học làm bằng tranh, tre, nứa, lá; trang thiết bị giáo dục hầu như là con số không; đặc biệt toàn tỉnh còn tồn tại 108 làng trắng về giáo dục.

Đội ngũ giáo viên vừa thiếu trầm trọng, lại vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Toàn tỉnh chỉ có 1269 giáo viên ở tất các các cấp học, bậc học, trong đó nhiều giáo viên được đào tạo theo hình thức công đoạn (giải pháp tình thế sau 1975 của tỉnh Gai lai-Kon Tum) vì vậy năng lực chuyên môn, nghiệp vụ hết sức hạn chế.

Mặt bằng dân trí còn thấp, tỷ lệ người mù chữ cao, chiếm 17,7%; việc huy động học sinh ra lớp gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ huy động học sinh ra lớp ở các cấp học, bậc học còn rất hạn chế. Tỷ lệ người đi học trên số dân rất thấp, trong 10 người dân thì chỉ có 1 người đi học.

2. Những thành tựu vượt bậc.

Trước những khó khăn bộn bề đó, với sự quan tâm, lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự phối hợp đồng bộ của các sở, ban, ngành và chính quyền các huyện/TP; toàn ngành đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn, thực hiện đồng bộ các giải pháp vừa mang tính cụ thể, thời sự vừa mang tính chiến lược để đưa sự nghiệp giáo dục tỉnh Kon Tum phát triển vượt bậc.

2.1. Vấn đề bức xúc, buộc phải tháo gỡ để phát triển đó là: Xây dựng, phát triển mạng lưới trường lớp với phương châm xóa “làng trắng” về giáo dục và tạo điều kiện tối đa để  đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Nếu năm 1991, toàn tỉnh còn có 108 làng trắng về giáo dục, đến năm 1996 đã xóa “làng trắng” về giáo dục. Năm 2000, tổng số trường trong toàn tỉnh là 171, tăng 62 trường so với năm 1991. Đặc biệt là trong 10 năm từ 2001-2011, hệ thống trường lớp đã phát triển mạnh, tính đến tháng 6/2011, toàn tỉnh đã có 374 trường, trong đó mầm non: 106 trường; tăng 92 trường; tiểu học: 137 trường, tăng 50 trường; THCS: 98 trường; tăng 70 trường; THPT: 23 trường, tăng 20 trường; TTGDTX: 7 TT, tăng 7 TT; CĐ, ĐH: 03, tăng 02 trường so với năm 1991. Những số liệu này có thể khẳng định, hệ thống trường lớp đã có những bước phát triển rất lớn, và đã đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của người dân.

Trong 20 năm qua, ngành giáo dục tỉnh không chỉ tập trung phát triển hệ thống trường lớp về mặt số lượng mà còn coi trọng về mặt chất lượng của hệ thống các trường. Từ con số không về thiết bị dạy học, sau năm 2000, đặc biệt là trong những năm trở lại đây, thiết bị giáo dục được trang bị đồng bộ, hiện đại đảm bảo yêu cầu dạy học và đổi mới giáo dục. Việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đã được chú trọng và đã đạt thành tự quan trọng. Nếu giai đoạn từ năm 1991-2000, toàn tỉnh không có một trường đạt chuẩn quốc gia nào, đến năm 2011, số trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh là 80 trường, tỉ lệ  22,3%; trong đó có 19 trường mầm non, 44 trường tiểu học, 12 trường THCS và 5 trường THPT.

Năm 1995 đánh dấu mốc phát triển của giáo dục tỉnh Kon Tum: Trường TH chuyên Kon Tum được thành lập, khởi đầu cho việc đào tạo học sinh mũi nhọn và đặc biệt đến năm 2010, trường TH chuyên được xây mới và đổi tên thành THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành với cơ sở vật chất khang trang, thiết bị dạy học hiện đại, đồng bộ đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao của cả tỉnh.

2.2. Song song với việc phát triển hệ thống trường lớp, toàn ngành đã tập trung thực hiện việc huy động và duy trì sĩ số học sinh. Nếu năm 1991, tỷ lệ huy động học sinh vào các cấp học còn rất thấp, mẫu giáo: 29%, tiểu học: 60%, THCS: 21%, THPT: 4%; đến năm 2011, tỷ lệ này lần lượt là: 100%; 99,8%; 98,9%; 68%. Bên cạnh đó, toàn ngành đã tập trung vào việc duy trì sỹ số và hạn chế học sinh bỏ học. Tỷ lệ học sinh bỏ học năm 1991 là 7,51%, đến năm 2011, tỷ lệ còn 0,67%, giảm 5,84% so với năm 1991. Chính nhờ công tác huy động và duy trì sĩ số học sinh, nên tỷ lệ người đi học tăng, nếu năm 1991 cứ 10 người dân có 1 người đi học thì đến nay cứ 3 người dân thì có 1 người đi học.

2.3. Tăng cường bổ sung đội ngũ giáo viên, tập trung bồi dưỡng, chuẩn hóa giáo viên là một trong những giải pháp trọng tâm mà toàn ngành đã kiên trì thực hiện trong suốt 20 năm qua và đã có những kết quả nổi bật. Đến năm 2000, đội ngũ nhà giáo đã được bổ sung và số lượng đã lên đến 5937 người, tăng 4668 người so với năm 1991. Đến năm 2011, tổng số giáo viên, CBQL đã lên đến 8700 người, tăng 7431 người so với năm 1991. Bên cạnh bổ  sung về số lượng, đội ngũ nhà giáo đã được bồi dưỡng, chuẩn hóa và chất lượng đội ngũ đã được nâng lên rõ rệt. Nếu năm 1991, vẫn còn 65% đội ngũ chưa đạt chuẩn đào tạo, đến năm 2000, con số này đã giảm còn 17% và đến nay chỉ còn 1,7%. Tỷ lệ giáo viên giỏi cấp tỉnh hàng năm không ngừng tăng, năm 1991, toàn tỉnh có 75 GV giỏi cấp tỉnh, đến năm 2011, toàn tỉnh có 205 giáo viên giỏi cấp tỉnh.

2.4. Sau tái lập tỉnh, tỷ lệ người mù chữ toàn tỉnh rất cao, công tác phổ cập giáo dục tiểu học chỉ mới có tính định hướng. Trước thực trạng đó, toàn ngành đã tập trung vào công tác xóa mù chữ và tiến hành từng bước phổ cập GD tiểu học. Với sự nỗ lực của toàn ngành, đến năm 2000 toàn tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn XMC và PCGD tiểu học. Từ cơ sở đó, với quyết tâm cùng cả nước hoàn thành công tác PCGD THCS và PCGD TH đúng độ tuổi theo chủ trương của Đảng, Nhà nước; toàn ngành tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt và đến năm 2009, công tác PCGDTHCS đã về đích trước một năm và năm 2010, toàn tỉnh đã hoàn thành công tác PCGD tiểu học đúng độ tuổi.

2.5. Đẩy mạnh phát triển giáo dục dân tộc là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành, sau 20 năm giáo dục dân tộc đã có những bước chuyển biến tích cực, biểu hiện qua các mặt:

- Hệ thống trường PTDTNT đã hoàn chỉnh, năm 1991 chỉ có 6 trường PTTDNT từ tiểu học đến THPT, đến nay đã có 9 trường PTDTNT chỉ với hai cấp học THCS, THPT. Hệ thống trường bán trú dân nuôi đã có bước phát triển khá mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh DTTS ở bậc tiểu học và cấp THCS. Hiện nay toàn tỉnh đã có 55 trường (Tiểu học và THCS) có bán trú dân nuôi, với 8328 học sinh.

- Năm 1991, tỷ lệ học sinh DTTS chiếm khoảng 30% trong tổng số học sinh toàn tỉnh, đến năm 2011, tỷ lệ học sinh DTTS chiếm 60% tăng gấp đôi so với năm 1991.

- Từ năm 2008, thực hiện Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy và Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh DTTS, sau bốn năm triển khai thực hiện giáo dục dân tộc đã có bước phát triển mới, chất lượng giáo dục học sinh DTTS từ mầm non đến THPT đã có chuyển biến tích cực, tỷ lệ trẻ từ 3-5 tuổi suy dinh dưỡng, tỷ lệ trẻ 5 tuổi đạt yêu cầu, tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm và học lực từ trung bình trở lên, tỷ lệ học sinh có học lực khá, giỏi, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT và đỗ vào ĐH, CĐ tăng so với năm chưa thực hiện Nghị quyết.

2.6. Đồng thời với các nhiệm vụ về đảm bảo các điều kiện giáo dục, nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Sau 20 năm, nhất là từ khi thực hiện cuộc vận động “Hai không” chất lượng giáo dục từng bước ổn định và chuyển biến theo chiều hướng tích cực.

Trong suốt chặng đường phát triển, đặc biệt là trong những năm gần đây, toàn ngành đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giáo dục như: Tăng thời lượng học bằng cách dạy 2 buổi /ngày ở tất cả các cấp học; tổ chức phụ đạo, bồi dưỡng cho học sinh yếu; tăng cường vốn tiếng Việt cho HSDTTS ở mầm non, tiểu học và THCS; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và phù hợp với đối tượng học sinh; chú trọng công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh; tăng cường bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu; nghiêm túc, khách quan trong kiểm tra, đánh giá học sinh; đổi mới công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp ...vv.

Bằng việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông đã có những chuyển biến hết sức tích cực và đạt những thành tự đáng trân trọng. Tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm khá, tốt tăng, xếp loại yếu kém giảm; tỷ lệ học sinh có học lực từ trung bình, khá giỏi tăng hàng năm; tỷ lệ tốt nghiệp THPT, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ hàng năm tăng, chất lượng giáo dục mũi nhọn, tỷ lệ học sinh giỏi quốc gia, học sinh giỏi khu vực ngày càng  tăng. Nếu năm 1991, toàn tỉnh chỉ có 3 học sinh giỏi quốc gia, đến năm 2000, số học sinh giỏi quốc gia của tỉnh là 8 học sinh và đến năm 2011 con số này đã là 28, đứng vị thứ 26/68 đơn vị tham gia.

● Trong 20 năm qua, thành tựu đạt được của giáo dục Kon Tum là rất lớn và thành quả này đã được các cấp từ trung ương đến địa phương ghi nhận. Tuy nhiên với đặc thù của một tỉnh miền núi, phía trước, giáo dục Kon Tum vấn còn nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể:

Điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới giáo dục. Nhiều trường ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu phòng học để dạy 2 buổi/ngày, thiếu phòng thí nghiệm, thực hành, thiếu nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập, nhiều phòng học còn tạm bợ.

Chất lượng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa mặc dù đã được nâng lên, tuy nhiên chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Học sinh dân tộc thiểu số đi học không chuyên cần, tỷ lệ học sinh dân tộc bỏ học còn khá cao.

Đội ngũ giáo viên vẫn đang thiếu cục bộ ở vùng sâu, vùng xa; cơ cấu chưa hợp lý; một bộ phận giáo viên năng lực thực tiễn chưa đáp ứng yêu cầu dạy học.

Công tác XHHGD phát triển chưa mạnh, chưa đều tại các địa phương; một bộ phận người dân còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự đầu tư của Nhà nước; sự phối kết hợp giữa nhà trường- gia đình và xã hội tại những vùng khó khăn chưa thể hiện rõ.

3. Những định hướng phát triển trong thời gian tới.

3.1. Mở rộng và hoàn thiện mạng lưới trường học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân.

- Tiếp tục mở rộng mạng lưới giáo dục mầm non đến các điểm dân cư; tập trung huy động các nguồn lực để xây dựng các trường THCS tại những xã, phường mới thành lập; tách những trường còn chung 2-3 cấp học thành những trường mầm non, tiểu học, THCS độc lập.

- Tiếp tục đầu tư các điều kiện, nhất là cơ sở vật chất đối với những trường THPT mới thành lập và các trường Phổ thông DTNT. Thành lập các TTGDTX tại những huyện còn lại, phát triển sâu rộng TTHTCĐ tại các xã, phường và chỉ đạo các trung tâm hoạt động có hiệu quả nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho mọi đối tượng trong độ tuổi lao động và những người có nhu cầu được học tập nhằm cải thiện cuộc sống và nâng cao dân trí.

- Triển khai xây dựng hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú. Đầu tư hoàn thiện 4 trường “kiểu mẫu” đào tạo chất lượng cao: THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành và 03 trường thực hành sư phạm.

- Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu: đến năm 2015, trên 25% trường mầm non, 45% trường tiểu học, 20% trường THCS và 30% trường THPT đạt chuẩn quốc gia.

3.2. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh DTTS theo Nghị quyết 05, ngày 3/12/2007 của Ban thường vụ Tỉnh ủy.

3.3. Duy trì và nâng cao chất lượng chống mù chữ, chất lượng PCGD tiểu học đúng độ tuổi và PCGD trung học cơ sở, phấn đấu thực hiện hoàn thành công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015.

3.4. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo hướng kiên cố, đồng bộ và hiện đại.Tiếp tục thực hiện có kết quả chương trình kiên cố hoá trường, lớp học giai đoạn mới. Huy động các nguồn đầu tư, các dự án, sự đóng góp từ các tổ chức xã hội, cá nhân vào việc tăng cường CSVC, ưu tiên trang thiết bị dạy học đối với những trường trọng điểm, trường đạt chuẩn quốc gia, những trường PT DTNT, trường ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

3.5. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng giáo dục theo hướng chuẩn hóa, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục.

3.6. Tiếp tục xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL theo Chỉ thị 40 của Ban Bí thư TW. Rà soát, quy hoạch đội ngũ GV, CBQL đủ số lượng, chuẩn về chất lượng và từng bước hợp lý về cơ cấu; bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV, CBQL.  

3.7. Đẩy mạnhcông tác xã hội hóa giáo dục. Tuyên truyền sâu rộng chủ trương chính sách về xã hội hóa giáo dục để các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các cơ sở giáo dục và nhân dân nhận thức đúng và đầy đủ, thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hoá giáo dục. Vận động, phối hợp các lực lượng xã hội, khơi dậy trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia, hỗ trợ, chăm lo sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và đối với học sinh DTTS nói riêng. 

● Sau 20 năm hình thành và phát triển, tuy đối mặt với những rào cản và nhiều khó khăn, nhưng với sự cố gắng, nỗ lực vượt khó của đội ngũ CBQLGD, giáo viên; giáo dục Kon Tum đã từng bước trưởng thành và đạt những thành tựu quan trọng, góp phần rất lớn vào sự phát triển KT-XH của tỉnh Kon Tum. Phía trước, giáo dục Kon Tum đang song hành với nhiều thời cơ thuận lợi xen lẫn với những thách thức không nhỏ. Hy vọng với những thành tựu đã có, cùng với sự quan tâm, lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Bộ GD&ĐT; giáo dục Kon Tum sẽ tiếp tục phát triển và cùng với các ngành, các lĩnh vực khác, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sự phát triển KT-XH-ANQP của tỉnh nhà.

                                                      NGƯT.TS. Nguyễn Sỹ Thư                                                                Giám đốc Sở GD&ĐT Kon Tum

 

 

Tin mới

Hình ảnh

  • Photo Title 1
  • Photo Title 2
  • Photo Title 3
  • Photo Title 4
  • Photo Title 5

Download

 

Đăng nhập

Lost your password?

Liên kết

 

Upload tài nguyên

(Bạn phải đăng nhập

để thực hiện tác vụ này)

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay8
mod_vvisit_counterHôm qua15
mod_vvisit_counterTuần này55
mod_vvisit_counterTuần trước65
mod_vvisit_counterTháng này384
mod_vvisit_counterTháng trước689
mod_vvisit_counterTất cả21473

We have: 2 guests online
Your IP: 192.168.10.254
 , 
Today: Tháng 11 22, 2017